Kính thưa các thầy cô giáo, các em học sinh thân mến!
Có thể khẳng định rằng sức khỏe sinh sản là một mảng quan trọng của đời sống, có ảnh hưởng rất lớn đến hạnh phúc và sức khỏe của mỗi cá nhân và cộng đồng. Nhưng những ai thiếu hiểu biết về nó hoặc có định kiến sai lấm, thiếu tình cảm, thiếu lòng trân trọng có thể làm cho nó trở nên nhạt nhẽo, tầm thường thậm chí đau buồn, xấu xa và sinh ra nhiều bệnh tật nguy hiểm cho bản thân, gia đình và cộng đồng.
Ngày nay hầu như mọi người đã quan tâm đến vần đề sức khỏe và mong muốn hiểu biết rõ hơn về nó. Nhiều nước trên thế giới đã đưa giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản vào giảng dạy ở nhà trường phổ thông và đại học. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số vấn đề băn khoăn:
– Liệu giáo dục sức khỏe sinh sản có làm cho thanh thiếu niên bị lôi cuốn vào lối sống buông thả không? Kinh nghiệm của những nước đã triển khai giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản đều cho thấy nó đem lại kết quả tích cực chứ không đáng sợ như người ta tưởng.
Có nên tổ chức những lớp giới thiệu về giới tính và sức khỏe sinh sản cho cha mẹ học sinh, các thầy cô giáo, các cán bộ quản lý giáo dục, quản lý các đoàn thể… không? Gần đây nhiều nước trên thế giới và ở nước ta đã chứng minh được việc đó là thực sự cần thiết. Gia đình, nhà trường, xã hội phải quan tâm đến việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, giúp cho các em tự trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng bảo vệ sức khỏe sinh sản, hôn nhân và kế hoạch hóa gia đình để xây dựng cho mình một cuộc sống lành mạnh, đảm bảo hạnh phúc gia đình và góp phần vào sự tiến bộ của cộng đồng. “Thanh thiếu niên cần có sự hỗ trợ của người lớn để ứng phó với những suy nghĩ, cảm súc và kinh nghiệm xảy ra cùng với sự trưởng thành về thể chất… Bằng chứng trên khắp thế giới đã cho thấy rất rõ ràng việc cung cấp thông tin và xây dựng những kĩ năng về giới tính và sức khỏe sinh sản cũng như các mối quan hệ của con người sẽ giúp ngăn ngừa những vấn đề về sức khỏe và tạo ra những quan điểm chín chắn hơn và có trách nhiệm hơn” (Tiến sĩ Gro Hartem Brundtlan – Tổng giám đốc tổ chức Y tế Thế giới).
Có thể nói giáo dục sức khỏe sinh sản góp phần nâng cao nhận thức của con người về mặt cá nhân với xã hội. Vì vậy nó cần được bắt đầu càng sớm càng tốt (Trước tuổi 12 theo tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo ).
Với tầm quan trong to lớn như vậy, hôm nay thầy, trò chúng ta cúng nhau tìm hiểu về giới tính và sức khỏe sinh sản vị thành niên để các em có thể tự xây dựng cho mình một lối sống lành mạnh, an toàn.
- KHÁI NIỆM GIỚI TÍNH VÀ GIỚI.
- Giới tính là gi?
Giới tính là đặc điểm khác biệt về sinh học giữa nam và nữ, chủ yếu liên quan đến chức năng sinh sản.
Sự khác biệt này là tự nhiên, vốn có giữa nam và nữ khắp mọi nơi trên trái đất và không thay đổi trong suốt cuộc đời của mỗi con người cũng như không thay đổi ở mọi thời đại.
Nhờ có sự khác biệt gới tính mà phân biệt được đàn ông, đàn bà, con trai, con gái.
- Giới là gì?
Giữa nam và nữ còn có những khác biệt không phải là tự nhiên mà do chính con người và xã hội đặt ra, đó là sự khác biệt về xã hội và tương quan địa vị xã hội giữa nam và nữ được nảy sinh, hình thành trong quá trình sống với sự dạy dỗ, học hỏi và tự học mà có.
Có thể tóm tắt sự khắc nhau giữa giới tính và giới theo sơ đồ sau:
| Giới tính | Giới |
| – Đặc trưng của sinh học.
– Bẩm sinh: sinh ra đã có đặc điểm này. – Đồng nhất ở mọi lúc, mọi nơi trên toàn thế giới.
|
– Đặc trưng của xã hội.
– Được dạy dỗ, học hỏi mà có – Đa dạng phong phú (có sự khác biệt theo vùng, miền, khu vực … ).
|
| Không thể thay đổi theo thời gian | Có thể thay đổi theo thời gian |
- Khái niệm về tuổi vị thành niên (VTN)
Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi ấu thơ sang tuổi người lớn.
Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ và phức tạp nhất của cuộc đời mỗi con người. Biểu hiện của giai đoạn này là xảy ra đồng thời một loạt những thay đổi bao gồm: sự chín muồi về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách. Nhưng đây cũng là giai đoạn nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác.
Theo tổ chức Y tế Thế giới, vị thành niên nằm trong độ tuổi từ 10 đến 19. Cũng có một số nước VTN là từ 13 đến 20 hoặc từ 15 đến 24 tuổi.
Trẻ em bước vào tuổi VTN bằng những dấu hiệu của tuổi dậy thì. Tuổi dậy thì đối với nữ được tính từ khi xuất hiện kinh nguyệt lần đầu tiên ( khoản 13 – 14 tuổi ), còn đối với nam kể từ khi xuất tinh lần đầu tiên ( khoảng 14 -15 tuổi)
Ngày nay đối với toàn thế giới, tuổi dậy thì đến sớm hơn nhiều: Nữ lên 10, nam 12-13. Cá biệt có thể đến sớm hơn hoặc muộn hơn bình thường.
Tuổi dậy thì là tuổi có khả năng sinh sản, nhưng cơ thể các em đang ở vào độ tuổi VTN, nên chưa chín muồi về mặt sinh dục, chưa ổn định về mặt tâm sinh lý và chưa thể làm cha, làm mẹ được. Vì vậy phải tiến hành giáo dục sức khỏe sinh sản cho VTN, tạo điều kiện cho các em vượt qua được giai đoạn khủng hoảng của tuổi dậy thì để trở thành người lớn thực sự.
- Sức khỏe sinh sản vị thành niên.
3.1. Những biến đổi về thể chất.
Bước vào tuổi dậy thì, tuyến yên tiết ra những lượng lướn hoocmon FSH (follicle stimulating hormone ) và hoocmon LH ( lutein hormone ) có tác dụng kích thích hoạt động của buồng trứng ( nếu là nữ ), tinh hoàn ( nếu là nam ). Nhận lệnh của tuyến yên, buồng trứng của nữ giới tăng cường sản xuất 2 hoocmon là estrogen và progesteron; còn tinh hoàn của nam giới sẽ sản xuất hoocmon testosteron. Các hoocmon này khiến cho cơ thể có những biến đổi sinh học cả về bên trong và bên ngoài thật kỳ diệu: biến đổi nhanh về vóc dáng cơ thể, cơ quan sinh dục phát triển, các dặc điểm giới tính khác như lông, râu, ngực trở nên rõ rệt, các em gái bắt đầu có kinh nguyệt, em trai có hiện tượng xuất tinh. Sự phát triển đó đưa trẻ em bước vào một cuộc sống mới của tuổi VTN.
Những thay đổi của cơ thể ở tuổi vị thành niên.
| Nữ | Nam |
| – Phát triển chiều cao | – Phát triển chiều cao |
| – Phát triển cân nặng | – Phát triển cân nặng |
| – Phát triển vú | – Phát triển vú |
| – Phát triển lông mu | – Phát triển lông mu |
| – Thay đổi giọng nói | – Giọng nói trầm |
| – Tăng tiết mồ hôi và chất nhờn | – Tăng tiết mồ hôi và chất nhờn |
| – Da mỡ màng, mọc trứng cá trên mặt | – Da mỡ màng, mọc trứng cá trên mặt |
| – Ngực, vai, cơ không phát triển như ở nam | – Ngực và vai phát triển, các cơ rắn chắc |
| – Hông nở rộng, vòng eo thu hẹp | – Lông và râu trên cơ thể trở nên phát triển |
| – Đùi trở nên thon | – Dương vật và tinh hoàn phát triển |
| – Tử cung và buồng trứng to ra | – Bắt đầu xuất tinh |
| – Bộ phận sinh dục ngoài phát triển | – Các tuyến nội tiết phát triển |
| – Sự rụng trứng xảy ra, bắt đầu khi có kinh nguyệt | – Ngừng phát triển bộ xương sau khi hình thể đã hoàn thiện |
| – Các tuyến nội tiết phát triển | |
| – Ngừng phát triển bộ xương sau khi hình thể đã hoàn thiện |
3.2. Những biến đổi về tâm lý và sinh lý
Cùng với những biến đổi về thể chất, ở VTN xuất hiện những hiện tượng sinh lý đặc biệt.
3.2.1. Hiện tượng kinh nguyệt ở nữ giới
Kinh nguyệt ( còn gọi là hành kinh) lần đầu tiên xảy ra khi em gái bước vào tuổi dạy thì, đa số ở vào khoảng tuổi 12, một số ít có kinh lần đầu có thể sớm hơn hoặc muộn hơn.
Đó là một sự kiện tự nhiên và hạnh phúc, một đảm bảo về nữ tính và là dấu hiệu thông báo sự trưởng thành của bộ máy sinh dục ở nữ giới.
Có 4 yếu tố đặc trưng cho kinh nguyệt là:
Về chu kỳ kinh nguyệt: Từ ngày thứ nhất có kinh lần này đến ngày thứ nhất có kinh lần tiếp theo được tính là một chu kỳ ( còn gọi là vòng kinh). Đa số phụ nữ có chu kỳ kinh nguyệt bình thường khoảng 28 ngày, một số có thể ngắn hơn hoặc dài hơn, có khi đến 40 ngày.
Số ngày hành kinh: Kinh nguyệt thường xảy ra nhanh hay chậm tùy từng người, có người chỉ hành kinh 2 – 3 ngày, có người khác có thể lên đến 6 -7 ngày.
Khối lượng máu kinh: Mỗi lần hành kinh có thể mất 50 – 60ml máu kinh.
Màu sắc kinh: Màu sắc kinh đỏ sẫm, không có máu cục.
Người phụ nữ nào có những bất thường về thời gian hành kinh, khối lượng của kinh và chu kỳ kinh tức là bị rối loạn kinh nguyệt.
Khi mới có kinh thì những yếu tố trên thường dao động trong năm đầu rồi mới định hình rõ rệt cho từng người.
Khi một em gai đến tuổi 17 mà không có kinh nguyệt và vú chưa phát triển được coi như dậy thì đến muộn, trong trường hợp này phải đi khám để xem có phải do chậm phát triển nội tiết hay do một rối loạn nào khác của cơ thể.
3.2.2. Hiện tượng xuất tinh ở nam giới
Hiện tượng cương dương vật và xuất tinh ban đêm ( giấc mơ ướt hay còn gọi là mộng tinh ) cho thấy khả năng sinh sản ở nam giới đã bắt đầu. Nhưng từ đó đến tuổi hôn nhân cũng còn trên dưới 10 năm, vì vậy VTN cần hiểu điều này mà tăng cường học tập, rèn luyện để tránh những hành động sai lầm đáng tiếc làm tổn hại đến sức khỏe và hạnh phúc, tương lai như quan hệ tình dục sớm, tảo hôn.
3.2.3. Những biến đổi về tâm lý
Cùng với những biến đổi về cơ thể, sinh lý ở tuổi VTN, đời sống tâm lý của các em cũng có những biến đổi sâu sắc. Các em dần tự chủ về tâm lý, tình cảm, tìm hiểu và có cảm xúc về giới tính, đồng thời suy nghĩ về vai trò, tương lai của các em trong xã hội. Quá trình này diễn ra dần dần, đem đến nhiều cảm xúc cho các em và cảm xúc này đôi khi không ổn định. Một số em có thể cảm thấy thất vọng, vỡ mộng và bị tổn thương, nhưng trong chốc nát lại có thể trở nên sôi nổi, lạc quan.
- Các yếu tố, nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản VTN.
4.1. Mang thai sớm
Mang thai sớm là trường hợp nữ giới mang thai trước tuổi 18.
Hậu quả của việc mang thai sớm ở tuổi VTN là:
Tuổi có thai của người phụ nữ sẽ ảnh hưởng đến thai nghén cúng như sức khỏe của họ. Người mẹ tuổi càng trẻ nếu có thai, hậu quả về thể chất càng nghiêm trọng, vì cơ thể lúc này chưa đến độ hoàn thiện và ổn định, hơn nữa các em chưa có những kiến thức để bảo vệ nên có thể sẽ thụ thai, sinh nở hoặc phá thai. Những tai biến khi mang thai, nạo phá thai và sinh đẻ là những nguyên nhân đầu tiên dẫn đến tử vong bà mẹ ở tuổi VTN.
Con của các bà mẹ tuổi VTN hầu hết là đẻ non, nhẹ cân hoặc có thể bị tử vong khi sinh ra hoặc trong vài năm đầu của cuộc đời. Trẻ có thể bị dị tật bẩm sinh, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và tinh thần của chúng sau này.
Nhiều trường hợp mang thai ở tuổi VTN do áp lực của gia đình và dư luận xã hội nên dẫn đến cưới xin bắt buộc hoặc phá thai bất hợp pháp ở những nơi không đảm bảo an toàn ( bà đỡ vườn, cơ sơ y tế tư nhân không có giấy phép hành nghề sản phụ khoa ) hoặc phá thai muộn.
Hầu hết các cô gái mang thai sớm đều phải bỏ học, phải xa cách bạn bè, thầy cô giáo; cơ may tìm kiếm được việc làm của các em đó sẽ ít hơn và phải phụ thuộc vào người khác để sống và nuôi con. Người mẹ trẻ cảm tháy mình bị cô lập, tương lai của mình bị bán rẻ, mất giá trị trong con mắt của mọi người, làm tăng thêm cảm giác thất bại, lạc lõng. Một số em đã vì những mặc cảm đó mà dẫn đến những hành động đáng tiếc như tự vẫn, bỏ nhà đi làm gái bán dâm hoặc trở thành kẻ giết người ( giết đứa con do mình đẻ ra, trả thù người tình ). Nếu có tiến hành hôn nhân thì cả người con trai và con gái phải chấp nhận, nhưng sự kết hợp ràng buộc đó rồi cúng sẽ nhanh chóng kết thúc bằng sự tan vỡ. Đứa con của những cặp vợ chồng này sẽ phải chịu đựng quá nhiều thiệt thòi và bà mẹ không có khả năng chăm sóc, thậm chí còn ghét bỏ nó và còn bị xã hội coi trẻ là bất hợp pháp.
Ngoài ra nữ VTN mang thai sớm sẽ làm tăng tốc độ phát triển dân số, nhà nước phải chi trả trực tiếp trợ cấp về y tế, xã hội để giải quyết khó khăn cho bà mẹ và con. Xã hội còn phải chi trả dán tiếp những hậu quả do học vấn kém và các sản phảm kém hiệu quả của những người lao động không lành nghề làm ra.
Có thể nói việc làm cha, làm mẹ ở tuổi VTN thật không đáng mong muốn vì nó sẽ gây ra những hậu quả không thê lường trước được cho bản thân các em, con của họ cũng như gia đình và xã hội.
4.2. Mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục ( BLTQĐTD )
Ở tuổi VTN nếu có quan hệ tình dục sớm mà không có biện pháp đề phòng thì ngoài nguy cơ có thể gây ra mang thai sớm còn có thể bị lây nhiễm các bệnh lầy truyền qua đường tình dục như:
– Bệnh lậu
– Bệnh giang mai
– Bệnh do trùng roi Trichomanas vaginalis.
– Bệnh do nấm Candida.
– Bệnh do Clamydida.
– Bệnh hạ cam ( Nicolas Fvre ).
– Bệnh sùi mào gà
– Đặc biệt gần đây có hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người ( HIV/AIDS ).
– Bệnh viêm gan B, …
BLTQĐTD gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của con người nhất là đối với phụ nữ và trẻ sơ sinh, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, kinh tế đất nước và nòi giống.
Muốn phòng chống các BLTQĐTD có hiệu quả, nhất là ở các đối tượng thanh thiếu niên, học sinh cần nâng cao kiến thức về giới tính, tình dục và những hiểu biết cơ bản về các BLTQĐTD để biết cách phòng cho chính mình và cho người khác.
4.3. Bị xâm hại tình dục
Xâm hại tình dục trẻ em là những hành vi trực tiếp hay gián tiếp tác động đến trẻ em nhằm thỏa mãn dục vọng, trục lợi, gây ảnh hưởng xấu cho trẻ em cả về thể chất và tinh thần. Xâm hại tình dục trẻ em bao gồm lạm dụng tình dục trẻ em và bóc lột tình dục trẻ em.
Trẻ em bị lam dụng tình dục có thể là về thể xác, lời nói hoặc tình cảm bao gồm như:
+ Hiếp dâm, cưỡng dâm và giao cấu với trẻ em.
+ Loạn luân ( kẻ xâm hại có cùng mối quan hệ huyết thống với trẻ em ).
+ Dâm ô với trẻ em (hành vi dâm đãng, quấy rối tình dục đối với trẻ em nhằm thỏa mãn dục vọng của mình, nhưng không giao cấu ) như: sờ mó, vuốt ve bộ phận sinh dục; Hôn có tính chất gợi dục; cho trẻ thấy hoạt động tình dục của người lớn hoặc xem phim ảnh khiêu dâm, nhận xét tục tĩu về cơ thể của trẻ; gọi điện thoại khiêu dâm; nhìn trộm trẻ ở nhà tắm hoặc giường ngủ, …
– Trẻ em bị bóc lột tình dục khi trẻ bị đối xử như một đối tượng tình dục và như là một đồ vật mang tính thương mại gồm những hành động làm mất phẩm giá, làm ô nhục và thậm chí đe dọa đến tính mạng trẻ em.
Có 3 hình thức bóc lột tình dục trẻ em mang tính thương mại là:
+ Mại dâm trẻ em
+ Buôn bán trẻ em vì mục đích tình dục
+ Sử dụng trẻ em làm mẫu để sản xuất văn hóa phẩm khiêu dâm vì mục đích kinh doanh
Trên đây là một số kiến thức cơ bản về giới tính, sức khỏe sinh sản vị thành niên, hy vọng nó sẽ giúp ích cho các em trong việc phòng tránh, bảo vệ bản thân mình tốt nhất.









